NGUYÊN NHÂN CHI TIẾT CỦA BỆNH ĐỘNG KINH

Căn bệnh động kinh được chia ra làm 3 dạng nguyên nhân chính, xuất phát điểm là không rõ căn nguyên rồi nguyên phát và có nguyên nhân. Hãy cùng tìm hiểu cụ thể hơn về điều này.

1. Động kinh không rõ căn nguyên

Động kinh căn nguyên ẩn (cryptogenic epilepsi) thể hiện nguyên nhân được che dấu. Bệnh sử, thăm khám lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng không chỉ ra được tổn thương não để có thể giải thích hợp lý các cơn. Động kinh căn nguyên ẩn chiếm 60,5% nhất là trẻ em (40,5%) và thường là các cơn toàn thể. Động kinh có thể coi là chưa rõ nguyên nhân khi chụp cắt lớp vi tính sọ não bình thường nhưng có thể là động kinh triệu chứng nhờ chụp cộng hưởng từ sọ não.

2. Động kinh nguyên phát (idiopathic epilepsy)

Thuật ngữ “động kinh toàn thể nguyên phát – primery generalized epilepsi” bao hàm hiện tượng lâm sàng và điện não của cơn động kinh xảy ra trong điều kiện là toàn thể ngay từ đầu, không có tổn thương khu trú não.

Nhóm động kinh này thường xuất hiện ở lứa tuổi dưới 20, đặc biệt ở tuổi trẻ em. Sự phát triển tâm lý vận động của trẻ vẫn bình thường cho tới lúc xuất hiện các cơn động kinh và ngoài ra không thấy có dấu hiệu của bệnh não. Tuổi phụ thuộc vào dạng cơn. Cơn vắng ý thức thường bắt đầu ở 4 đến 6 tuổi; nhóm đặc biệt bắt đầu ở 9 đến 15 tuổi. Cơn giật cơ và cơn co cứng co giật toàn thể thường bắt đầu 11 đến 14 tuổi. Sự cải thiện hoặc kiểm soát cơn động kinh hoàn toàn sau 20 đến 25 tuổi là thường gặp. Gastaut H. chỉ ra tỷ lệ động kinh nguyên phát là 28,4% cho tất cả các lứa tuổi, trong đó 11,3% là động kinh co cứng co giật, 9,9% động kinh vắng ý thức, 4,1% cơn giật cơ, và 3,2% cho các biểu hiện khác.

Với sự tiến bộ về các phương pháp thăm dò hiện đại tinh vi ở thang tế bào, sinh hoá,… người ta hy vọng ngày càng phát hiện được các tổn thương nhỏ của não (sẹo, dị dạng mạch máu não) ở các bệnh nhân trước đây cho là động kinh nguyên phát. Nhiều tác giả đề nghị nên đổi thuật ngữ động kinh “nguyên phát”, “vô căn – essencial epilepsy” thành động kinh “căn nguyên ẩn” để khuyến khích các thầy thuốc kiên nhẫn phát hiện nguyên nhân.

3. Động kinh có nguyên nhân

Động kinh triệu chứng (symptomatic epilepsi) là do các tổn thương não đã cố định hoặc tiến triển. Nguyên nhân gây động kinh triệu chứng liên quan đến các yếu tố gây tổn thương não từ giai đoạn thai nhi cho đến giai đoạn phát triển tâm lý vận động và các bệnh lý mắc phải trong giai đoạn truởng thành. Có thể nói nguyên nhân của động kinh xâm nhập toàn bộ bệnh học thần kinh từ sang chấn sọ não, u não, bệnh lý mạch máu não,…

Liên hội Quốc tế chống động kinh đưa ra các tiêu chí qu thuộc cho nguyên nhân nào đó, dựa trên hồi cứu lâm sàng các bệnh lý từ trước có giá trị làm tăng nguy cơ động kinh. Thu thập bệnh sử gồm những câu hỏi trực tiếp về tiền sử chu sinh và vấn đề phát triển tâm ký vận động, nhữg cơn co giật do sốt cao, biến chứng kéo dài và những tiền sử chấn thương vùng đầu trước đây. Nhiễm khuẩn màng não, tiền sử gia đình động kinh và sự phát triển gần đây của những triệu chứng và dấu hiệu thần kinh khác.

– Bất thường bẩm sinh: nhiều bất thường bẩm sinh có liên quan với giảm sút khả năng học tập và động kinh. Những rối loạn về di chuyển tế bào thần kinh trong một số trường hợp có liên quan đến cơn co thắt ở trẻ em, cơn giật cơ trầm trọng ở trẻ sơ sinh. 

– Nguyên nhân trong khi sinh được đề cập nhiều nhấ là các tai nạn sản khoa như đẻ can thiệp (forcep, mổ đẻ), ngạt đẻ. Ở Việt Nam một số công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ động kinh có nguyên nhân chấn thương sản khoa hoặc ngạt đẻ chiếm 7-10% bệnh nhân.

Nguy cơ bị động kinh có thể tăng lên trên cơ sở của chảy máu não hoặc não thất hoặc nhồi máu não trước và sau sinh. Khi có những tổn thương nghiêm trọng ở não, các cơn động kinh cục bộ hay toàn thể xuất hiện sớm. Khi các tổn thương kín đáo hơn, cơn đôgnj kinh có thể xảy ra muộn ở tuổi trưởng thành.

– Co giật do sốt: người ta đã công nhận mối liên quan giữa co giật sức tạp (với khởi phát khu trú hoặc thời gian kéo dài trên 15 phút hoặc các cơn co giật nối tiếp trong một cơn sốt) do sốt và các cơn co giật không do sốt ở một số trường hợp. Giả thuyết rằng co giật do sốt kéo dài sẽ gây ra tổn thương tế bào thần kinh với tình trạng mất tế bào và xơ hoá thần kinh đệm.

– Chấn thương: sang chấn sọ não là nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều dạng động kinh và đứng hàng thứ hai sau viêm não gây động kinh. Động kinh xuất hiện trong một tháng đầu đến một năm gọi là động kinh sớm, nếu trên một năm sau chấn thương sọ não mới xuất hiện động kinh thì gọi là động kinh muộn.

Những tiêu chuẩn để có thể xác nhận cơn động kinh của bệnh nhân là nguyên nhân do chấn thương sọ não như sau:

+ Cơn động kinh đầu tiên xảy ra không quá 10 năm sau chấn thương sọ não,

+ Trước khi bị chấn thương sọ não, bệnh nhân không bị động kinh.

+ Sau khi bị chấn thương sọ não, bệnh nhân có mất ý thức hoặc có triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú.

+ Không tìm thấy nguyên nhân gì khác gây động kinh.

– Di chứng viêm não, màng não: động kinh là triệu chứng thường gặp ở thời kỳ cấp và thời kỳ di chứng. Đây là một nguyên nhân chính gây động kinh ở trẻ em. Thường gặp do áp-xe não, viêm màng não, đặc biệt là do lao, viêm não do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng. Ngoài ra có thể gặp động kinh do giang mai.

– U não: khoảng 40-50% u não gây động kinh.

Có khi động kinh chỉ là một biểu hiện trong một bệnh cảnh lâm sàng đã rõ của u não; nhưng có khi cơn động kinh lại là biểu hiện đầu tiên của u não và có thể là triệu chứng duy nhất kéo dài hàng tháng và nhiều năm về sau. Động kinh do u não có nhiều hình thái lâm sàng, nhưng chủ yếu là cơn động kinh cục bộ.

– Bệnh lý mạch máu não: theo thống kê của Housten và Heritt thì 15% có động kinh trong xuất huyết não, 7% trong tắc mạch máu não và 15% trong xuất huyết màng não. Hay gặp nhất là do u mạch, thông động tĩnh mạch trong não.

– Động kinh do kén sán não: là một nguyên nhân thường gặp ở vùng có lưu hành những tập quán ăn gỏi. Ngoài kén sán não gây động kinh còn phát hiện có các nang sán ở cơ đáy mắt.

Ngoài các nguyên nhân hay gặp trên, động kinh còn có thể do nhiều nguyên nhân khác gây nên, cần phải khám xét đầy đủ về lâm sàng và cận lâm sàng để tìm nguyên nhân.

guest
0 Bình luận
Inline Feedbacks
Tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, xin vui lòng bình luận.x
()
x